DIỄN ĐÀN Y KHOA - LỚP YBK35 - KHOA Y - TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
DIỄN ĐÀN Y KHOA - LỚP YBK35 - KHOA Y - TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
DIỄN ĐÀN Y KHOA - LỚP YBK35 - KHOA Y - TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ

Một tập thể năng động, đoàn kết và vững mạnh!
 
IndexCalendarGalleryTìm kiếmTrợ giúpThành viênĐăng kýĐăng NhậpNhóm
:: DIỄN ĐÀN Y KHOA - LỚP YBK35 - KHOA Y - TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ::
  • DIỄN ĐÀN Y KHOA - LỚP YBK35
QUẢNG CÁO

Share |

DƯỢC LÝ HỌC CỦA HỆ THẦN KINH THỰC VẬT.

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang
Tác giả Thông điệp

Khách vi
Khách viếng thăm



Huy chương cấp bậc:

Liên hệ



1- Các thuốc ảnh hưởng lên cơ quan đáp ứng adrenergic.
7.1.1- Các thuốc làm tăng cường tác dụng của các adrenergic:
Nếu tiêm noradrenalin vào tĩnh mạch thì gây ra tác dụng lên toàn cơ thể. Vì thế noradrenalin gọi là thuốc giống giao cảm hay thuốc adrenergic.Adrenalin, ephedrin, methoxamin v.v... là những thuốc giống giao cảm khi tiêm noradrenalin, hay adrenalin vào cơ thể có thời gian tác dụng ngắn từ 1 đến 2 phút, còn những thuốc giống giao cảm khác thì có thời gian tác dụng kéo dài từ 30 phút đến 2 giờ.
Một số thuốc tác dụng đặc hiệu lên a- adrenoreceptor như: phenylephrin...
Còn isoproteronol, albuterrol chỉ tác dụng lên b - adrenoreceptor.
1.2- Các thuốc kìm hãm hoạt tính adrenergic.
Hoạt tính adrenegic có thể bị chặn lại ở nhiều khâu:
- Thuốc ngăn chặn sự tổng hợp và tích trữ noradrenalin ở tận cùng thần kinh, thường dùng là reserpin.
- Thuốc ức chế giải phóng noradrenalin từ các tận cùng thần kinh. Chất điển hình là gunitidin, Xylocholin, oknid, oktadin.
- Thuốc ức chế b - adrenoreceptor: Propanolon ức chế tất cả b - adrenoreceptor còn thuốc metoprolol chỉ ức chế b1 – adrenoreceptor.
- Thuốc ức chế a- adrenoreceptor: Ergotamin, Ergotoxin.
- Thuốc ức chế sự dẫn truyền qua hạch thực vật: Hexamethonium.
2- Các thuốc ảnh hưởng lên cơ quan đáp ứng cholinergic.
2.1- Thuốc có tác dụng phó giao cảm (muscarinic).
Tiêm acetylcholin vào tĩnh mạch không gây ra tác dụng giống như khi kích thích dây phó giao cảm vì acetylcholin bị phá huỷ ngay trong máu và trong các dịch trước khi kịp đến các cơ quan đáp ứng. Tuy nhiên có mộtt số thuốc không bị phá huỷ nhanh thì có thể gây ra tác dụng của phó giao cảm. Chúng được gọi là các thuốc giống phó giao cảm, thường dùng là Pilocarpin, methacholin, chúng tác động trực tiếp lên các receptor cholinergic loại muscarinic.
Các thuốc có tác dụng giống phó giao cảm cũng có cả tác dụng lên các cơ quan đáp ứng với các sợi cholinorgic của sợi giao cảm. Ví dụ hai thuốc trên có thể gây bài tiết mồ hôi, gây giãn mạch ở một số cơ quan ngay cả ở các mạch máu không có sợi cholinergic.
2.2- thuốc tác dụng tăng tác dụng của phó giao cảm (thuốc kháng cholinesterase). Một số thuốc không có tác dụng trực tiếp lên cơ quan đáp ứng cholinergic nhưng lại làm tăng tác dụng của acetylcholin ở các tấm vận động: neostigmin, pyridostigmin, ambenonium. Các thuốc này ức chế enzym cholinesterase, do đó làm cho acetylcholin được giải phóng ra chậm bị phân huỷ, kết quả là tác dụng của acetylcholin lên cơ quan đáp ứng được kéo dài.
2.3- Thuốc ức chế hạot tính cholinergic ở cơ quan đáp ứng (thuốc kháng muscarin): Atropin, homảtopin và Scopolamin ức chế tác dụng của acetylcholin lên các receptor muscarinic ở các cơ quan đáp ứng cholinergic. Tuy nhiên các thuóc này không ảnh hưởng tới các receptor nicotinic ở neuron hậu hạch hay ở cơ vân.
3- Thuốc kích thích hay ức chế neuron hạch thực vật.
3.1- Thuốc kích thích hạch thực vật.
Tiêm acetylcholin có thể kích thích neuron hạch thực vật ở cả hai hệ , vì vậy đồng thời gây ra cả hiệu ứng giao cảm trên toàn bộ cơ thể. Chất nicotin kích thích các neuron hạch giống như acetylcholin, vì ở màng neuron hạch cũng có receptor với nicotin. Do đó thuốc này còn gọi là thuốc loại nicotinic. Thuốc acetylcholin và methacholin có cả tác dụng nicotinic và muscarinic, còn Pylocarpin chỉ có tác dụng muscarinic mà thôi.
Do nicotin tác dụng kích thích neuron hạch, cả hệ giao cảm và phó giao cảm nên gây co mạch mạnh ở các tạng ổ bụng và ở chi đồng thời lại gây ra hiệu ứng phó giao cảm như làm giảm hoạt động của dạ dày – ruột, có khi còn làm giảm cả nhịp tim.
3.2- Thuốc ức chế hạch thực vật.
Nhiều chất như tetraethyl, ammonium hoặc nhóm các chất carare: D – tubocurarin, diplacin. Hoặc nhóm hexonic: hexonic. pentamin, afonat.
Các thuốc trên ức chế dẫn truyền xung động từ neuron tiền hạch sang neuron hậu hạch chúng có tác dụng ức chế đồng thời lên cả hạch giao cảm lẫn hạch phó giao cảm. Chúng chủ yếu được dùng để ức chế giao cảm ( các dấu hiệu ức chế giao cảm thường che lấp ức chế phó giao cảm) thuốc ức chế hach thường sử dụng điều trị bệnh nhân cao huyết áp, nhưng người ta ít dùng vào mục đích này vì khó kiểm soát tác dụng của thuốc.

Chữ ký của Khách vi

Về Đầu Trang Go down

DƯỢC LÝ HỌC CỦA HỆ THẦN KINH THỰC VẬT.

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang
Trang 1 trong tổng số 1 trang

* Viết tiếng Việt có dấu, là tôn trọng người đọc.
* Chia sẻ bài sưu tầm có ghi rõ nguồn, là tôn trọng người viết.
* Thực hiện những điều trên, là tôn trọng chính mình.
* Nếu chèn smilies có vấn đề thì bấm A/a trên phải khung viết bài.
Permissions in this forum: Bạn không có quyền trả lời bài viết
DIỄN ĐÀN Y KHOA - LỚP YBK35 - KHOA Y - TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ :: MÔN CƠ SỞ NGHÀNH :: SINH LÝ -